Cây hoa anh túc và 6 công dụng trị bệnh ít người biết

0

Người ta chỉ biết đến cây hoa anh túc là loại cây thuốc phiện mà quên đi mất giá trị y học của loại cây này. Cây hoa anh túc nếu sử dụng hợp lý có thể chữa được nhiều loại bệnh khác nhau.

Giới thiệu về cây hoa anh túc

Giới thiệu về cây hoa anh túc
Giới thiệu về cây hoa anh túc
  1. Tên gọi

Cây hoa anh túc hay còn gọi là a phiến, thẩu, trẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum L., thuộc họ Anh túc (Papaveraceae)

  1. Mô tả

Cây hoa anh túc là loại cây thân thảo có độ cao trung bình từ 1- 1,5m, toàn than có màu xanh lục,  mềm mại, mọc thẳng, lá hình bầu dục, đối xứng có nhiều tua mọc dọc thân, dài từ 5- 7cm. Hoa anh túc mọc ở ngọn có nhiều màu khác nhau như tím, trắng, đỏ, vàng xếp thành 2-3 lớp, bao lấy nhị hoa, màu vàng. Hoa anh túc nở vào tháng 3 đến tháng 5.

Quả anh túc có hình cầu hoặc trụ dài 4~7cm, đường kính 3~6cm, khi chín có mầu vàng xám, cuống qủa phình to ra, đỉnh qủa còn núm. Trong quả có nhiều hạt nhỏ hơi giống hình thận, trên mặt có vân  hình mạng mầu xám trắng hoặc xám đen. Mặt quả anh túc khi khô có các vết ngang hoặc dọc tùy theo cách lấy nhựa, mỗi vết gồm 3 đến 4 đường.

  1. Bộ phận dùng

Quả của cây hoa anh túc được dùng để trị nhiều loại bệnh.

  1. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hoa anh túc có nguồn gốc từ Hy Lạp. Tại Việt Nam đây là loại cây chỉ cho phép trồng theo quy định, xuất hiện nhiều ở các vùng núi sâu xa. Cây hoa anh túc thường được trồng vào cuối tháng 11 và thu hoạch vào tháng 3 cho tới tháng 5. Cây hoa anh túc sau khi được thu hoạch sẽ được bào chế theo nhiều dạng khác nhau phục vụ cho việc chữa bệnh.

  1. Bào chế

Cây hoa anh túc được dùng tươi hoặc phơi khô sắc nước, tán bột để trị nhiều loại bệnh khác nhau.

  1. Thành phần hoá học

Thành phần hóa học của cây hoa anh túc gồm có codein, morphin, papaverin, narcotin, thebain, narcotolin, cedoheptulose, dmannoheptulose, erythritol, myoinositol, norsanguinarin, sanguinarin, cryptopl, cholin, protopine….

Thành phần hoá học
Thành phần hoá học

Công dụng của cây hoa anh túc

Theo đông y quả của cây hoa anh túc có vị chua chát, tính bình, có chứa độc nhưng hoàn toàn có thể loại bỏ để chữa nhiều loại bệnh. Người ta thường sử dụng quả cây hoa anh túc để chữa các bệnh sau đây.

  1. Trị lỵ lâu ngày

Bài thuốc 1:   Quả cây hoa anh túc 100g, tán nhuyễn, trộn cùng mật ong viên hoàn 6-8g. Mỗi ngày uống 2 bữa, mỗi bữa 1 viên với nước gừng ấm sau bữa ăn 30 phút.

Trị lỵ lâu ngày
Trị lỵ lâu ngày

Bài thuốc 2: 400g anh tác xác bỏ màng, chia thành 3 phần, trong đó phần 1 sao với dấm, phần 2 sao với mật và để sống phần 3 đem tán thành bột sau đó trộn đều với 1 lượng mật ong vừa đủ tạo thành viên hoàn để trị bệnh lỵ lâu ngày. Mỗi ngày uống 2 bữa, mỗi bữa 2-4 viên từ 6- 8g sau bữa ăn 30 phút với nước ấm.

Bài thuốc 3: Vỏ quả anh túc (bỏ 2 núm trên và dưới, đập dập, mang nướng với mật tới hơi đỏ), hậu phác (bỏ vỏ, ngâm cùng nước cốt gừng qua đêm, nướng) đem tán thành bột mịn, dùng uống với nước ấm sau bữa ăn 30 phút, mỗi lần uống từ 4- 6g.

  1. Trẻ em bị thổ tả, bạch lỵ, không muốn ăn uống

40g anh tác xác (sao), 40g kha tử (nướng và bỏ hạt), 40g trần bì (sao), 8g chích thảo và 8g sa nhân đem tán bột để trị bệnh thổ tả, bệnh lỵ, không muốn ăn ở trẻ. Mỗi lần dùng từ 4- 8g với nước cơm, ăn trước bữa 30 phút để đạt được hiệu quả cao nhất. Áp dụng liên tiếp trong 3- 5 ngày để bệnh được khỏi hẳn.

Trẻ em bị thổ tả, bạch lỵ, không muốn ăn uống
Trẻ em bị thổ tả, bạch lỵ, không muốn ăn uống
  1. Trị ho lâu ngày

Vỏ quả anh túc bỏ gân, nướng mật, tán nhuyễn thành bột, mỗi ngày dùng 2 bữa sau khi ăn với nước ấm có tác dụng trị ho lâu ngày. Một đợt thuốc điều trị từ 3- 5 ngày. Kết hợp với xúc miệng với nước muối để đẩy nhanh tiến trình trị bệnh.

  1. Trị hen suyễn, lao, ho lâu năm mồ hôi tự ra

100g anh túc xác (bỏ màng và đế, sao với giấm), 20g ô mai đem tán thành bột bỏ lọ sử dụng lâu dài để trị hen suyễn, lao, ho lâu năm mồ hôi tự ra. Mỗi ngày uống 2 lần mỗi lần 8g với nước ấm sau khi ăn 30 phút. Áp dụng liên tiếp từ 15-20 ngày sau đó theo dõi dấu hiệu của bệnh để tiếp tục dùng.

  1. Trị thủy tả không cầm

Anh túc xác 1 phần, đại táo nhục và ô mai nhục đều 10 phần, tất cả đem sắc với 1 lít nước đến kho còn 1 nửa, đổ bát, chia đều 3 bữa uống sau khi ăn có tác dụng trị thuỷ tả không cầm. Kiên trì áp dụng trong 5-7 ngày để bệnh khỏi được dứt điểm.

Trị thủy tả không cầm
Trị thủy tả không cầm
  1. Trị thận hư

20g anh túc xác (sao với giấm, tán nhỏ, rồi lại dùng chảo đồng sao qua), 20g binh lang (sao đỏ, nghiền nỏ), xích lỵ vừa đủ đem tán thành bột sử dụng lâu dài để trị thận hư. Mỗi ngày uống thành 2 lần sau bữa ăn 30 phút với nước gừng ấm, mỗi lần uống từ 4-6g.

Kiêng kị

Trong cây anh túc có chứa nhựa trắng lấy ra phơi khô thành thuốc phiện, trong đó chứa 10% morphin, có thể giải trừ hiện tượng chuột rút và ức chế cơ tim, chủ yếu dùng trong co thắt cơ tim tắc động mạch. Do vậy, cần chú ý sử dụng đúng liều lượng không sẽ gây hại cho cơ thể.

Comments

Suckhoetv.com ( Tạp Chí Điện Tử về Sức Khỏe và Làm Đẹp ). Những bài viết trên đây của chúng tôi được sưu tầm kỹ lưỡng từ những nguồn uy tín nhất. Hi vọng mang lại cho quý khách những nội dung bổ ích. Hieu Ngo

Chia sẻ